Chủ Nhật, 22 tháng 9, 2013

DỊCH VỤ PHÒNG CHỐNG MỐI CÔNG TRÌNH XÂY DỰNG TẠI ĐỒNG NAI

Diệt mối, chống mối công trình xây dựng

Đối với các công trình xây dựnh TCXD 204 năm 1998: Bảo vệ công trình xây dựng, phòng mối cho công trình mới bắt đầu xây dựng và theo Quyết địng 221/1998/QĐ/BNN_XDCB của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn về định mức dự toán cho công tác điều tra, khảo sát và xử lý mối.)
Diệt tổ mối
- Khi san lấp nền đất, nếu phát hiện tổ mối thì phải đào tới tổ, tưới vào vị trí mối khoảng 20-30 lít dung dịch thuốc chống mối 10% PMs-100(hoặc thuốc có tác dụng tương đương), không thể để các tàn dư thực vật như: Gỗ vụn, cốp pha, ván khuôn…
- Tròn trường hợp ván khuôn bị kẹt lại mà không lấy ra được thì phải tiến hành phun thuốc có hiệu lực phòng chống mối vào đó, nhằm vô hiệu hóa nguồn thức ăn và nơi trú ngụ của mối
Hào phòng mối:
Tạo ra chướng ngại đứng bằng cách đào hào la các “hàng rào” bao quanh phía ngoài sát măh tường móng công trình, nhắm ngăn ngừa mối từ các vùng lân cận và dưới lòng đất xâm nhập vào công trình. Hàng rào rộng 50cm, sâu từ 60-80 cm tùy theo vùng đất xây dựng. Nếu nền đất xốp, hào phải đảm bảo sâu 80cm. Mỗi m3 đất đào lên được trộn với 12-14 kg thuốc PMs-100 hoặc loại thuốc có tác dụng tương đương rồi lấp lại. Trước khi lấp, vách hào phía ngoài lót một lớp nylon.
- Sau khi lấp xong, mặt nền được lát gạch hoặc đổ bê tông rồi hoàn thiện.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
TPHCM (TRỤ SỞ CHÍNH)
 CÔNG TY TNHH TM - DV – VT – XD HẢI ÂU
 Địa chỉ: 36/10 – Đường Phạm Văn Chiêu – F9 – Quận Gò Vấp 
Điện thoại : 08.22.28.53.54 -08.22.47.21.56 - 0938.521.939.
GĐKKD : 4102070076
MST       : 0307550275

Emaill:dichvuhaiau@ymail.com
CHI NHÁNH ĐỒNG NAI
VPDD:Biên Hòa – Đồng  Nai
Địa Chỉ ; số 10 Cư Xá Nông lâm – TP Biên Hòa – Tỉnh Đồng Nai
Tell  : 0948-35-55-66 (Mr Thoại)
Hoặc tham khảo tại wedsite:
http://dichvudietmoihaiau.com
http://dietmoigiarehcm.blogspot.com

DỊCH VỤ DIỆT MỐI TẬN GỐC TẠI ĐỒNG NAI

Mối là một nhóm côn trùng có họ hàng gần với gián. Mối là nhóm côn trùng có đời sống xã hội cao, chúng sống tập trung thành vương quốc sớm nhất.
Mối là một nhóm côn trùng xã hội.
Đôi khi người ta còn gọi Mối là "Kiến trắng" nhưng thật ra chúng chẳng có họ hàng gì với nhau cả (thậm chí chúng còn tấn công nhau), chúng chỉ có mối quan hệ: đều là côn trùng. Mối được phân loại như là bộ cánh đều (danh pháp khoa học: Isoptera), tuy nhiên, dựa trên chứng cứ ADN, người ta thấy có sự ủng hộ cho một giả thuyết gần 120 năm trước, nguyên thủy dựa trên hình thái học, rằng mối có quan hệ họ hàng gần gũi nhất với các loài gián ăn gỗ (chi Cryptocercus). Gần đây, điều này đã dẫn tới việc một số tác giả đề xuất rằng mối nên được phân loại lại như là một họ duy nhất, gọi làTermitidae, trong phạm vi bộ Blattodea, một bộ chứa các loài gián. Tuy nhiên, phần lớn các nhà nghiên cứu ủng hộ biện pháp ít quyết liệt hơn và coi mối vẫn là nhóm có tên gọi khoa học Isoptera, nhưng chỉ là một nhóm dưới bộ trong gián thực thụ, nhằm bảo vệ phân loại nội bộ của các loài mối.
Hoạt động: Mối là côn trùng hoạt động ẩn náu theo đàn. Trên thế giới có hơn 200 loài mối, thường thấy nhất là mối nhà và mối đất cánh đen .Trong một tộc đoàn mối, mỗi nhóm cá thể thực hiện các chức năng riêng biệt được gọi là thành phần đẳng cấp. Đàn mối chỉ tồn tại khi có đủ các thành phần đẳng cấp. Một tộc đoàn mối thường có các đẳng cấp cơ bản sau:
1. Mối vua và mối chúa



Chuyên làm nhiệm vụ sinh sản. Mỗi tộc đoàn mối thường có 1 mối Vua và 1 mối Chúa, nhưng cũng có trường hợp trong một tộc đoàn mối có đến vài mối vua hoặc vài mối chúa. Mối Hậu có đầu nhỏ, bụng to (có thể dài từ 12-15cm), bộ phận sinh dục phát triển. Mối hậu có thể sống 10 năm; lúc đầu đẻ ít trứng, sau 4 - 5 năm, bộ phận sinh dục trưởng thành, mỗi ngày có thể đẻ ra 8.000 - 10.000 trứng.
2. Mối thợ
Cơ thể nhỏ, các chi phát triển, mối thợ chiếm số đông , tới 70% - 80% trong đàn mối, gánh vác tất cả các công việc trong vương quốc mối như: kiếm và chế biến thức ăn, xây tổ, làm đường, chuyển trứng, nuôi mối con, hút nước....
Mối thợ dùng đồ ăn và bùn, qua gia công kỹ lưỡng dính vào nhau để xây tổ. Có tổ mối chính và tổ mối phụ, là nơi chủ yếu để tập đoàn mối hoạt động và sinh sống. Ở Châu Phi, có loài Mối xây tổ thành gò cao trên mặt đất tới hơn 10m và rất chắc chắn tựa như pháo đài, thành lũy vậy.
3. Mối lính
Được phân hóa từ mối thợ và thường không đông có nhiệm vụ canh gác, đánh đuổi kẻ thù bảo vệ đàn. Cặp hàm trên của mối lính rất phát triển (là vũ khí lợi hại của chúng), có con còn có tuyến dịch hàm tiết ra chất nhũ trắng, khi đánh nhau có thể phun ra làm mê đối phương. Giác quan hai bên miện của mối lính rất phát triển, khi cần mối thợ phải cho mối lính ăn.
4. Mối cánh
Đây là những cá thể sinh sản thành thục, sau khi bay phân đàn chúng cặp đôi tạo thành các tổ mối mới, độc lập với quần tộc cũ.
Vòng đời sinh trưởng của mối
Thức ăn chủ yếu của Mối là chất cellulose của gỗ. Mối thợ có giác quan hai bên miệng kiểu nhai đặc biệt. Chất cellulose của gỗ khó tiêu hóa nhưng đường ruột của mối có một loại siêu trùng roi tiết ra dung môi có thể phân giải cellulose thành đường cung cấp cho mối.
Sự tồn tại của một tập đoàn mối dựa trên sự phối hợp thực hiện các chức năng một cách tự giác của các đẳng cấp. Chúng đảm bảo cho sự cân bằng về dinh dưỡng, năng lượng, vi khí hậu trong tổ, chống lại kẻ thù, đảm bảo duy trì nòi giống. Chính vì có tập tính này nên mối được gọi là côn trùng xã hội.
CẢM ƠN TẤT CẢ KHÁCH HÀNG ĐÃ TÌM HIỂU THÔNG TIN VÀ DỊCH VỤ CỦA CÔNG TY CHÚNG TÔI!

Công ty chúng tôi chuyên nhận các dịch vụ về diệt tất cả các loại côn trùng gây hại như: RUỒI,MUỖI,KIẾN,GIÁN,BỌ TRÉT,BỌ XÍT,MỐI,MỌT,CHUỘT….

Nhận xử lý cho tất cả các công trình nhà ở,cơ quan,xí nghiệp,khu vực hội trường,khu sân vườn,khu biệt thự cao cấp,sân vận động,khu tập thể,chung cư….

Lợi ích của khách hàng khi sử dụng dịch vụ của công ty chúng tôi!


-         Đội ngũ nhân viên kỹ sư có nhiều năm kinh nghiệm .
-         Sử lý côn trùng bằng phương pháp mới nhất và hiện đại nhất,thẩm mỹ nhất.
-         Sử dụng thuốc được sản xuất từ những tập đoàn nổi tiếng trên thế giới(pháp và đức).
-         Không độc hại,không gây ô nhiễm môi trường,không ảnh hưởng tới sức khỏe con người.
-         Sử lý nhanh,hiệu quả tức thì trong 03 ngày,bảo đảm an toàn cho sản phẩm,sức khỏe con người,vật nuôi…..
-         Vệ sinh sạch sẽ sau khi sử lý xong.
-         Bảo hành miễn phí 03-06-12-24-36 tháng (có giấy bảo lãnh bảo hành).
Chi tiết xin liên hệ:
TPHCM (TRỤ SỞ CHÍNH)
 CÔNG TY TNHH TM - DV – VT – XD HẢI ÂU
 Địa chỉ: 36/10 – Đường Phạm Văn Chiêu – F9 – Quận Gò Vấp
Điện thoại : 08.22.28.53.54 -08.22.47.21.56 - 0938.521.939.
GĐKKD : 4102070076
MST       : 0307550275

Emaill:dichvuhaiau@ymail.com
CHI NHÁNH ĐỒNG NAI
VPDD:Biên Hòa – Đồng  Nai
Địa Chỉ ; số 10 Cư Xá Nông lâm – TP Biên Hòa – Tỉnh Đồng Nai
Tell  : 0948-35-55-66 (Mr Thoại)
Hoặc tham khảo tại wedsite:
http://dichvudietmoihaiau.com
http://dietmoigiarehcm.blogspot.com







DỊCH VỤ DIỆT GIÁN TẠI ĐỒNG NAI

Gián là loài côn trùng có đôi cánh ôm kín lưng, kích thước khác nhau tùy theo loài, có thể dài từ 2 - 3mm đến 80mm, thân có màu nâu sáng hoặc đen và chúng ít khi bay.
Các loại gián nhà thường gặp là gián Mỹ (Periplaneta americana), gián Úc (Periplaneta australasiae), gián Đông Phương (Blatta orientalis), gián có băng vàng, nâu (Supella longipalpa), gián Đức (Blattella germanica).
Gián sinh trưởng qua 3 giai đoạn: trứng, thiếu trùng và con trưởng thành. Tùy theo điều kiện nhiệt độ và độ ẩm thích hợp, trứng gián có thể nở thành thiếu trùng sau từ 1 đến 3 tháng. Thiếu trùng hay còn gọi là gián con thường không có cánh và dài chỉ vài milimét. Khi mới nở có màu trắng và đen dần sau vài giờ. Gián con lột xác và lớn lên, phát triển thành gián trưởng thành từ sau vài tháng đến hơn một năm tùy theo loài. Gián trưởng thành có thể có cánh hoặc không có cánh.
Gián nhà thường sống chung với người và gây hại cho con người ở trong nhà tại những vùng có khí hậu nhiệt đới, ôn đới, ấm áp, ẩm thấp, có thức ăn thích hợp. Chúng sống thành đàn và hoạt động mạnh về ban đêm, còn ban ngày tìm nơi tối tăm, ẩm thấp để trú ẩn như ở hố hốc, kẽ tường, kẽ cửa, kẽ tủ, nhà vệ sinh, tủ đựng bát đĩa và đồ ăn, nơi để các thiết bị truyền thanh, truyền hình và các dụng cụ điện; ống nước và rãnh thoát nước, chuồng gia súc... Trong đêm tối, gián thường bò đi tìm thức ăn ở nhà bếp, tủ đựng bát đĩa và thức ăn, nơi thùng rác, cống rãnh thoát nước... Khi ta bật đèn sáng, gián bị hoảng loạn và chạy loạn xạ trên bát đĩa, đồ dùng nấu ăn, nền nhà... để tìm nơi ẩn náu.
Gián là loài côn trùng thuộc loại phàm ăn và ăn tạp vì chúng ăn được tất cả các loại thức ăn của con người, nhưng món “khoái khẩu” nhất đối với chúng là các loại thức ăn có chất bột và đường như sữa, bơ, bánh ngọt, sô cô la... Khi không có thức ăn ngon, gián cũng có khả năng ăn cả bìa gáy sách, tủ đựng đồ đạc và trần nhà có chất bột, thậm chí cả đế giày, tấm lót giày, xác lột và xác chết của chúng, máu tươi, máu khô, phân... và tệ hại hơn nữa là nhấm luôn cả móng chân, móng tay của trẻ em, người ốm, người lớn đang ngủ ngon giấc...
Khi gián phát triển quá nhiều và quá đông đúc, chúng có khả năng di cư đến nơi ở mới bằng cách bò hay bay thành đàn để tìm chỗ sinh sống.
Gián nhà và khả năng truyền bệnh
Gián nhà là loại côn trùng có hại cho sinh hoạt hàng ngày và sức khỏe của con người vì chúng có tập tính sống ở những nơi bẩn thỉu, hủy hoại và làm thức ăn bị nhiễm khuẩn, đồng thời có thể gặm nhấm làm hư hỏng một số vật dụng như quần áo, vải vóc, bìa gáy sách vở... Chúng vừa ăn vừa nôn mửa những thức ăn mà chúng đã tiêu hóa một phần và đào thải phân rải rác khắp nơi. Các chất bài tiết, nôn mửa từ miệng gián, các tuyến trên cơ thể của gián có mùi hôi đặc biệt, rất khó chịu và đọng lại rất lâu trên những vật dụng mà nó đã đi qua. Có lẽ bất cứ ai cũng có thể cảm nhận được cái mùi rất đặc trưng của loài gián sống gần gũi và làm phiền hà cho mình, một số người thường bị dị ứng với gián khi có sự tiếp xúc thường xuyên.
Hoạt động của gián nhà là bò, chạy tự do từ nhà này sang nhà khác, từ cống rãnh, vườn tược, hố rác, nhà vệ sinh... rồi vào nhà ở để trú ẩn. Chúng có thể ăn tất cả những chất thải cũng như thức ăn của con người nên thường mang và phát tán mầm bệnh tấn công con người. Gián không phải là tác nhân gây bệnh nhưng nó là trung gian truyền và phát tán một số loại bệnh đã được khẳng định hoặc nghi ngờ vì nó mang mầm bệnh tiêu chảy, kiết lỵ, dịch tả, phong, dịch hạch, thương hàn, virus bại liệt... Ngoài ra, nó còn mang các loại trứng giun đường ruột, gây tác động kích thích dị ứng, ngứa, viêm da, mí mắt và các rối loạn hô hấp khác tùy theo mức độ.
Làm thế nào để phòng, chống gián nhà?



Biện pháp phòng, chống gián nhà quan trọng và cần thiết nhất là cải tạo môi trường sống như thường xuyên dọn dẹp vệ sinh sạch sẽ nhà cửa và làm giảm nơi trú ẩn của chúng. Biện pháp này có thể bị hạn chế đối với những nhà có trẻ nhỏ và động vật nuôi. Ở những căn nhà riêng biệt, việc phòng, chống gián thu được hiệu quả dễ dàng hơn là ở những căn hộ liền kề vì sau khi diệt được gián ở trong nhà, gián ở ngoài nhà có thể bay vào nhà, nơi có nhiệt độ ấm áp. Ở các ống nước, nơi để áo quần, thực phẩm... là chỗ gián thường xuyên trú ẩn.
Trong những ngôi nhà dù rất sạch sẽ cũng có thể có sự hiện diện của loài gián, nhưng ở đây không phải là nơi trú ẩn thường xuyên của chúng vì điều kiện không thích hợp. Khi phát hiện được gián con với các kích thước khác nhau và nhiều tổ trứng gián thì xác định tại nơi đó có ổ phát triển lâu dài của gián. Ổ gián thường tìm thấy ở các kẽ chân tường, kẽ đồ gỗ gia dụng và những nơi trú ẩn tương tự khác. Ban đêm, dùng ánh sáng đèn rọi rất dễ phát hiện được gián nhà. Việc dọn dẹp sạch sẽ, vệ sinh nhà cửa hàng ngày là điều cần thiết; thức ăn cần được đậy kín, để trong tủ lưới hoặc tủ lạnh, đừng cho các mẩu thức ăn thừa hoặc các chất hữu cơ vương vãi trong nhà; thùng chứa rác phải có nắp đậy kín và thường xuyên đổ rác; nền nhà nên chùi khô ráo.
Một vấn đề cũng cần chú ý để khống chế gián xâm nhập vào nhà là kiểm tra các tạp phẩm, khăn trải giường, quần áo bẩn, thùng đựng các vật dụng bằng gỗ, giá sách, tủ, giường... để loại bỏ trứng gián và diệt gián trước khi mang vào nhà. Để làm giảm nơi trú ẩn, nơi đẻ của gián, cần làm khít các mối nối bị hở ở sàn nhà, khe tủ đựng đồ dùng và kẽ cửa; lấp kín các rãnh nước, ống thoát nước, ống dẫn nước uống và đường dây cáp điện...
Sử dụng các loại hóa chất diệt côn trùng phun tồn lưu, phun khí dung, rải hoặc phun dạng bột... để diệt gián gặp không ít khó khăn vì nó có khả năng kháng hóa chất, chỉ sau một vài lần sử dụng, gián tiếp xúc với hóa chất mà không bị chết. Hơn nữa hóa chất diệt có tác dụng xua nên nó sẽ tránh và không tiếp xúc. Có thể dùng mồi bẫy gián có chất dẫn dụ hoặc hóa chất có tác dụng xua đuổi. Vì vậy biện pháp diệt gián bằng hóa chất chỉ là giải pháp tình thế tạm thời, cần thực hiện phối hợp với các biện pháp vệ sinh môi trường, cải thiện điều kiện sạch sẽ nhà ở mới có tác dụng hiệu quả.

 CẢM ƠN TẤT CẢ KHÁCH HÀNG ĐÃ TÌM HIỂU THÔNG TIN VÀ DỊCH VỤ CỦA CÔNG TY CHÚNG TÔI!

Công ty chúng tôi chuyên nhận các dịch vụ về diệt tất cả các loại côn trùng gây hại như: RUỒI,MUỖI,KIẾN,GIÁN,BỌ TRÉT,BỌ XÍT,MỐI,MỌT,CHUỘT….

Nhận xử lý cho tất cả các công trình nhà ở,cơ quan,xí nghiệp,khu vực hội trường,khu sân vườn,khu biệt thự cao cấp,sân vận động,khu tập thể,chung cư….

Lợi ích của khách hàng khi sử dụng dịch vụ của công ty chúng tôi!


-         Đội ngũ nhân viên kỹ sư có nhiều năm kinh nghiệm .
-         Sử lý côn trùng bằng phương pháp mới nhất và hiện đại nhất,thẩm mỹ nhất.
-         Sử dụng thuốc được sản xuất từ những tập đoàn nổi tiếng trên thế giới(pháp và đức).
-         Không độc hại,không gây ô nhiễm môi trường,không ảnh hưởng tới sức khỏe con người.
-         Sử lý nhanh,hiệu quả tức thì trong 03 ngày,bảo đảm an toàn cho sản phẩm,sức khỏe con người,vật nuôi…..
-         Vệ sinh sạch sẽ sau khi sử lý xong.
-         Bảo hành miễn phí 03-06-12-24-36 tháng (có giấy bảo lãnh bảo hành).
Chi tiết xin liên hệ:
TPHCM (TRỤ SỞ CHÍNH)
 CÔNG TY TNHH TM - DV – VT – XD HẢI ÂU
 Địa chỉ: 36/10 – Đường Phạm Văn Chiêu – F9 – Quận Gò Vấp
Điện thoại : 08.22.28.53.54 -08.22.47.21.56 - 0938.521.939.
GĐKKD : 4102070076
MST       : 0307550275

Emaill:dichvuhaiau@ymail.com
CHI NHÁNH ĐỒNG NAI
VPDD:Biên Hòa – Đồng  Nai
Địa Chỉ ; số 10 Cư Xá Nông lâm – TP Biên Hòa – Tỉnh Đồng Nai
Tell  : 0948-35-55-66 (Mr Thoại)
Hoặc tham khảo tại wedsite:
http://dichvudietmoihaiau.com
http://dietmoigiarehcm.blogspot.com






DIỆT KIẾN TẠI ĐỒNG NAI


Sơ lược về loài kiến 

Ðời sống loài kiến

Kiến, loài côn trùng sống hầu như ở khắp mọi nơi trên trái đất, trừ vùng băng giá và đại dương. Chúng sống thành bầy đàn, phân chia nhiệm vụ rõ ràng, có tôn ti trật tự, biết bảo vệ lẫn nhau và cũng đi xâm lăng, cướp bóc, bắt nô lệ, chăn nuôi sâu bọ lấy "sữa"... Số lượng bầy kiến có thể từ vài chục cho đến hàng ngàn con... nhưng đứng đầu luôn là kiến chúa, còn lại hầu như là các nữ kiến thợ với những nhiệm vụ như tìm kiếm thực ăn, nuôi nấng kiến con và đánh nhau khi có chiến tranh. Có rất ít kiến đực và chúng chỉ xuất hiện trong một thời gian ngắn với phận sự duy nhất là giao phối với kiến chúa để duy trì nòi giống, sau đó chết đi. Như vậy, có thể nói tổ kiến toàn là các nữ kiến!

Có trên 10 ngàn loài kiến. Hầu hết chúng có màu đen, nâu hoặc màu đất. Một vài loài có màu vàng, xanh lục, xanh dương hay tím. Có loài to đến 2.5 cm nhưng cũng có loài nhỏ cỡ 0.1 cm. Thông thường, đa số các loài kiến đều thuộc loại nhỏ. Mặc dù nhỏ bé nhưng kiến có thể khiêng một vật nặng hơn nó gấp 10 lần, có loài khoẻ đến độ khiêng vật nặng gấp 50 lần so với trọng lượng của chính nó, giả sử con người cũng có khả năng như vậy thì với trọng lượng 60 kg, người ta có thể khiêng một vật nặng đến 3 tấn!

Kiến sống nhiều nhất ở các vùng nhiệt đới. Chúng đào đường hầm làm tổ dưới đất, đùn đất lên trên xây tổ, hay làm tổ ở những bọng và lá cây. Có loài vô gia cư như kiến lê dương nay đây mai đó. Kiến lê dương đi cả đàn như đoàn quân Mông Cổ thời Thành Cát Tư Hãn. Chúng tàn sát và ăn thịt những con côn trùng nào vô phúc gặp chúng trên đường. Có loài kiến chuyên xâm lược những tổ kiến khác, cướp đoạt trứng kiến để bắt làm nô lệ khi lớn lên. Có loài kiến chuyên đi thu hoạch hạt cây về cất trong tổ như nhà nông. Có loài chăn những con bọ để lấy dịch đường như nhà nông nuôi bò lấy sữa.

Theo các nhà khoa học thì kiến tiến hóa từ ong bắp cày (wasp) cách đây khoảng 100 triệu năm bởi vì cấu tạo của chúng rất giống nhau. Ðiểm khác biệt ở chỗ kiến có một nốt tròn chuyển tiếp giữa ngực và bụng hay còn gọi là eo. Kiến chúa là loại to nhất, sau đó là kiến đực và nhỏ nhất là kiến thợ.

Cấu tạo cơ thể của kiến.

Cơ thể kiến có thể được chia làm 3 phần chính là đầu, ngực và bụng. Ðầu của kiến có 3 đặc điểm chính là hai cần ăng-ten, mắt và miệng. Hai cần ăng-ten này chính là nơi cảm nhận mùi, vị, nghe ngóng và nhận biết khi đụng chạm vật gì. Hai cần này chuyển động không ngừng để tiếp nhận các cảm giác đó. Kiến dùng hai cần ăng-ten để định hướng, ngửi mùi trong không khí, tìm thức ăn, và nhận biết đồng loại. Vài nhà khoa học tin rằng mỗi loài kiến đều có một mùi đặc trưng khiến chúng có thể nhận ra nhau một cách dễ dàng.

Kiến có hai mắt và mắt kiến thuộc về đa tròng, tức có nhiều trong mắt. Có loài mỗi mắt có khoảng 6 tròng nhưng cũng có loài mà mắt có hơn 1000 tròng. Thông thường mắt kiến chúa và kiến đực có nhiều tròng hơn kiến thợ. Kiến chỉ thấy một phần của vật thể trong mỗi tròng mắt này, tương tự như màn hình TV với cấu tạo điểm ảnh (pixel), sự tổng hợp các điểm ảnh tạo nên hình ảnh trên màn hình TV. Cũng nhờ vào con mắt tổng hợp này, kiến có thể thấy sự chuyển động của các vật thể một cách dễ dàng. Tuy vậy, kiến không thể nhìn xa được mà chỉ có thể nhìn rõ các vật tương đối gần. Một số loài kiến có đến 3 con mắt nhưng thuộc loại rất đơn giản vì chỉ có thể phân biệt được sáng hay tối. Một số loài kiến không có mắt.

Miệng của kiến có hai hàm, hàm ngoài và hàm trong. Hàm ngoài lớn hơn hàm trong, thay vì chuyển động lên xuống giống như người, hàm ngoài của kiến chuyển động theo chiều ngang. Hàm ngoài này dùng để tha thức ăn, trứng hoặc ấu trùng (larva) và để đánh nhau với kẻ thù. Rất nhiều loài kiến dùng đôi hàm ngoài này để xây tổ như đào đất và cắt gỗ. Cặp hàm trong nằm ngay sau cặp hàm ngoài được dùng để nhai và nghiền nát thức ăn. Thức ăn sau khi nghiền nát sẽ được lưỡi đưa vào một túi nhỏ ngay sau miệng. Túi nhỏ này cấu tạo bởi các cơ, chuyển động và bóp những thức ăn đã được nghiền nát để vắt chất dịch. Kiến tiêu thụ chất dịch bổ dưỡng này trong khi phần bã được thải ra ngoài. Thức ăn của kiến bao gồm nhiều loại từ côn trùng, hoa quả cho đến cây cỏ. Cặp hàm trong của kiến có những hàng lông rất nhỏ mà công dụng như chiếc lược dùng để lau chùi hai cần ăng-ten hoặc những cặp chân.

Loài kiến không có tai nhưng chúng nó có thể nghe được bằng cơ quan gọi là chordotonal. Cơ quan này có ở trên ngực, ăng-ten, chân và đầu của kiến. Chúng cảm nhận được tiếng động lan truyền trong đất, tuy nhiên chưa ai biết chúng có thể cảm nhận được tiếng động trong không khí hay không. Có một số loài kiến có thể tự mình gây ra tiếng động nhờ vào một cơ quan ở ngay dưới bụng. Cơ quan này chia làm hai phần, một phần có hình dáng như lưỡi cưa, phần kia cứng hơn và như điểm nhọn, tiếng động được tạo ra khi hai phần cạ vào nhau. Ðôi khi tiếng động được tạo ra lớn tới độ tai người có thể nghe được. Ngực là phần giữa của thân thể kiến bao gồm cả khúc nối và phần giao tiếp của bụng. Ngực nối với đầu qua cần cổ rất nhỏ.

Kiến có ba cặp chân. Mỗi chân được chia ra làm 9 khúc nối nhau bởi những khuỷu chân. Mỗi bàn chân của kiến đều có hai cái móc. Nhờ vào hai cái móc này mà kiến có thể bám, di chuyển trên cây và các bề mặt. Kiến cũng dùng các móc này để bới đất và đào các đường hầm dưới đất. Cặp chân trước cũng có cái lược giống như hàm trong dùng để lau chùi những cặp chân khác và đôi cần ăng-ten.

Trong loài kiến, kiến chúa và kiến đực có cặp cánh dùng khi giao phối. Những nữ kiến thợ không bao giờ mọc cánh.

Bụng của kiến được chia làm hai phần, eo và bầu. Eo, như đã nói ở trên, có hình dáng tròn nhỏ như viên bi, nối ngực và bầu. Một vài loài kiến có kim chích nọc độc ở ngay đít bụng. Có loài lại có tuyến nọc ở bụng và dùng nó để phun vào kẻ thù.


Kiến là loài sống thành bầy đàn và hợp tác. Chúng có thể bám vào nhau tạo thành cây cầu hoặc thậm chí cả một tiểu đảo nổi trên mặt nước. 

Giác quan
Giác quan chính của kiến là cần ăng-ten. Loài kiến có hai cần ăng-ten ở ngay phía trước đầu. Hai cần ăng-ten này là cơ quan khứu giác, thính giác và xúc giác. Người ta có thể dễ dàng nhận biết một con kiến khoẻ mạnh bằng cách nhìn vào cần ăng-ten chuyển động một cách không ngừng nghỉ. Nhờ vào hai cần ăng-ten này mà loài kiến có thể ngửi được mùi trong không khí, kiểm tra thức ăn, giao tiếp, xác định phương hướng, tìm kiếm thức ăn và nhận biết đồng loại. Một số các nhà khoa học cho rằng trong một tổ kiến, chúng tiết ra mùi đặc trưng để nhận biết lẫn nhau. Ngoài ra, kiến còn có cơ quan xúc giác ở miệng và vài nơi khác trên thân thể. Các cơ quan này là những sợi lông nhỏ và gai.

Cấu trúc xã hội
Hầu hết mọi xã hội loài kiến đều được chia ra làm ba thành phần. Ðó là kiến chúa, kiến thợ và kiến đực. Sau khi giao phối với một trong những chàng kiến đực, kiến chúa bắt đầu làm tổ và chỉ đẻ trứng trong suốt cuộc đời còn lại của mình. Kiến chúa không cai trị tổ kiến nhưng các kiến thợ luôn mang thức ăn lại nuôi như chúng nuôi lẫn nhau. Có tổ chỉ có một kiến chúa nhưng có tổ lại có nhiều kiến chúa cùng lúc. Ngoài nhiệm vụ chăm sóc và nuôi nấng kiến chúa, đàn kiến thợ còn có nhiệm vụ xây tổ, mở mang tổ rộng hơn, sửa chữa tổ khi bị hư hại, chăm sóc ấu trùng hay trứng kiến, tìm kiếm thức ăn và chiến đấu với kẻ thù. Một nữ kiến thợ có thể chỉ làm một công việc suốt đời, nhưng cũng có thể thay đổi từ việc này qua việc khác. Trong tổ kiến, lười nhất là những chàng kiến đực, chẳng làm việc gì khác ngoài nhiệm vụ giao phối với nàng kiến chúa và có cuộc đời ngắn ngủi nhất. Hình dáng kiến thợ to nhỏ khác nhau. Thường thì kiến lính to nhất, với đầu và hàm to nhất. Ở một số loài kiến, kiến lính chỉ có nhiệm vụ chiến đấu và bảo vệ. Nhưng ở một số loài kiến khác, kiến lính chẳng có nhiệm vụ gì đặc biệt cả.

Tổ kiến
Loài kiến thợ mộc (capenter ant) to lớn màu đen hay nâu thường làm tổ ở những cành cây, đôi khi chúng làm tổ ngay trên xà nhà. Loài kiến này không ăn gỗ như con mọt mà xén gỗ để làm tổ. Có nhiều loài làm tổ ở những thân cây mục hay dưới lớp vỏ cây, hoặc ở các phần rỗng của lá cây, đôi khi ở trong những gai cây. Một vài loài nhai nát lá cây hay thân cây để xây tổ.

Loài kiến đan tơ (weaver ant) cuộn, đan lá lại với nhau để làm tổ. Có những kiến thợ giữ cạnh lá lại với nhau, trong khi những kiến thợ khác tha ấu trùng nhả tơ để nối lá lại. Ấu trùng là giai đoạn tượng hình đầu tiên của kiến. Những ấu trùng này có khả năng nhả những sợi tơ trắng để giữ, nối lá lại với nhau thành tổ.

Tổ kiến có loại to, loại nhỏ. Có loại nhỏ chỉ bằng đầu ngón tay, chứa khoảng từ chục con tới 2, 3 trăm con kiến. Có loại xây tổ dưới đất rộng tới cả 12 thước như loài kiến ở vùng nhiệt đới chứa hàng chục triệu con kiến. Có loài kiến xây mười mấy cái tổ nối nhau bằng những đường hầm ở dưới đất như loài kiến vùng bắc Mỹ và ở Âu Châu và rộng như một sân chơi tennis. Có tổ cao tới cả thước chứa hàng triệu con. Hầu hết các tổ kiến được xây và chia ra làm nhiều phòng. Một phòng cho kiến chúa và trứng. Nhiều phòng dùng như phòng nuôi trẻ để chứa nhộng đang tăng trưởng. Rất nhiều phòng được dùng làm chỗ tụ họp cho kiến thợ và để nghỉ ngơi. Trong một số tổ, có những nhà kho để chứa đồ ăn và nuôi nấm. Tổ sẽ được nới rộng thêm khi số kiến ngày càng đông. Ở xứ lạnh vào mùa đông, kiến sống ở khúc sâu nhất của tổ dưới lòng đất và chui ra khỏi tổ khi mùa xuân đến.





Tổ của loài kiến gặt (harvester ant) ở Ấn Độ và kiến mộc ở Bắc Mỹ.

Chu kỳ sống
Kiến chúa thường đẻ trứng nở ra kiến thợ, nhưng vào một thời kỳ nhất định trong năm thì đẻ trứng nở ra kiến đực và kiến chúa tơ. Vài tuần sau khi sinh, kiến đực và kiến chúa tơ sẽ bò ra khỏi tổ, bay lên không trung để giao phối. Trong cuộc giao phối, kiến đực lưu tinh trùng trong cơ thể kiến chúa. Kiến chúa có thể giao phối với một hay nhiều chàng kiến đực. Trong mùa giao phối này, số lượng tinh trùng trong bụng kiến chúa đủ dùng trong suốt cuộc đời sinh sản của nàng.

Sau khi giao phối, kiến chúa và kiến đực đáp xuống đất. Những chàng kiến đực bò quanh quẩn rồi chết. Còn kiến chúa cắn đứt đôi cánh và bò đi kiếm chỗ làm tổ. Có trường hợp kiến chúa bò về tổ cũ và được chấp nhận. Ðôi khi kiến chúa sống nhờ ở một tổ kiến khác loài, được chúng chăm sóc và nuôi nấng cho đến khi sinh sản. Nhưng thông thường thì kiến chúa tự xây tổ mới. Sau khi sửa soạn nơi xây tổ, kiến chúa bịt kín cửa ra vào và bắt đầu đẻ trứng. Trong suốt thời gian này, kiến chúa sống bằng cách ăn cặp cánh đã trở nên vô dụng. Ðôi khi kiến chúa đói quá ăn cả những trái trứng của mình. Kiến chúa có khả năng kiểm soát để tinh trùng thụ tinh cho trứng hay không. Trứng nào không được thụ tinh sẽ trở thành kiến đực, trứng nào được thụ tinh sẽ trở thành kiến thợ hoặc kiến chúa tơ.

Trứng kiến rất nhỏ, chỉ vài ngày sau nở thành ấu trùng. Ấu trùng màu trắng, nhìn giống như con giun. Hầu hết các loại ấu trùng không tự di chuyển được. Kiến chúa phải nuôi ấu trùng bằng nước dãi của mình và đôi khi bằng chính những trái trứng khác. Giai đoạn này mất khoảng vài tuần, sau đó ấu trùng trở thành nhộng. Một số loại ấu trùng tự nhả và bọc chúng trong một cái kén trắng bạc trước khi trở thành nhộng. Nhộng là loại kiến non mình trong suốt, không ăn và bất động, sau từ 2 tới 3 tuần thì trở thành kiến. Khởi đầu là bầy kiến thợ. Kiến thợ sau khi trưởng thành, rời tổ đi kiếm mồi mang về cho kiến chúa và đàn ấu trùng ăn, và bắt đầu phận sự chăm sóc trứng, ấu trùng và nhộng trong khi kiến chúa tiếp tục đẻ trứng. Kiến chúa đẻ hàng ngàn trứng trong suốt một đời mình mà đa số chúng đều nở ra kiến thợ.

Ðể sinh tồn và chống trả những loài ăn kiến như ếch, nhện, chim, bò sát... và cả những loài kiến thù địch khác, loài kiến tự vệ bằng cách chích, cắn hay phun a-xít formic hoặc những hóa chất khác. Khoảng nửa số loài kiến có ngòi chích, chẳng hạn như kiến lửa hay loài kiến to chích vào da. Ngòi chích này tiết ra nọc gây đau rát và khó chịu. Loài không có ngòi chích thì có thể phun độc từ đít bụng.

Kiến ở tổ này thường đánh nhau với tổ khác. Có loài đánh nhau rất văn nghệ như kiến mật, chúng chỉ dùng sức đẩy nhau, không gây thương tích. Bên nào thắng thì chiếm tổ bên kia. Nhưng cũng có loài đánh nhau đến chết, cắn chân, cắn tay, cắn ăng-ten, cắn eo cho đứt bụng... Thông thường chúng hay “phân thây” bằng cách nhiều con kiến cùng bọn, cắn giữ chân, bụng, ăng-ten của kiến địch và kéo căng ra, và những con kiến khác cùng bầy dùng hàm cắt con kiến này thành từng mảnh! Bên nào thắng sẽ chiếm trứng, ấu trùng và kiến con về làm thức ăn. Có loài kiến chỉ chuyên sống bằng nghề thảo khấu như vậy.


Loài kiến tăng trưởng qua 4 giai đoạn: trứng (egg), ấu trùng (larva), nhộng (pupa), kiến trưởng thành (worker, male & queen).

Thông tin
Kiến nói chuyện với nhau bằng nhiều cách. Có loài sống trên cây hay lá dùng bụng của mình đập lên vách tổ báo hiệu khi tìm được thức ăn hay kẻ thù xuất hiện. Rung động truyền qua vách tổ đến đàn kiến bên trong khiến chúng ùa ra để giúp khuân mồi hay chống đỡ kẻ thù. Có loài tạo ra tiếng động như đã nói ở trên.

Kiến cũng có thể thông tin với nhau bằng cách tiết ra hóa chất hoá gọi là pheromone. Chất này được chứa trong những hạch ở đầu, ngực hay bụng. Chúng có mùi hay vị đặc trưng rất nhạy cảm với loài kiến, mỗi loại hóa chất tiết ra đều mang một ý nghĩa riêng. Thí dụ, chất tiết ra ở bụng để đánh dấu đường đến chỗ có thức ăn. Nếu cảm thấy nguy hiểm thì loại pheromone khác có thể được tiết ra để báo động.

Có lẽ loài kiến nhận biết nhau bằng mùi. Khi hai con kiến gặp nhau, chúng dùng ăng-ten để giao tiếp. Nếu cùng tổ, chúng có thể chạm miệng và một con sẽ nhả ra một chút dịch đường cho con kia ăn.

Tuổi thọ
Tuổi thọ của kiến chúa lâu nhất, khoảng từ 10 tới 20 năm. Kiến thợ sống từ 1 đến 5 năm. Kiến đực chỉ sống được vài tuần tới vài tháng và chết sau khi giao phối.

Các loài kiến
Có trên 10 ngàn loài kiến, được chia thành 8 - 9 nhóm dựa vào cấu tạo bên ngoài. Tuy nhiên, kiến cũng được phân nhóm dựa vào tập quán của chúng như 1- kiến lê dương (army/legion ant), 2- kiến chủ nô (slave-maker ant), 3- kiến nhà nông (farmer ant), 4- kiến sữa (dairying ant), 5- kiến mật (honey/honeypot ant), 6- kiến nấm (fungus-growing ant), 7- kiến bun (bull/bulldog/jumping ant), 8- kiến đan tơ (green tree/weaver ant) và 9- kiến gỗ (wood ant).

Kiến lê dương là loài kiến săn mồi rất hung dữ, đi cả bầy. Có loài săn mồi dưới mặt đất, đi qua những đường hầm. Mồi của chúng thường là các loài côn trùng và nhện. Nhưng đôi khi những con thú lớn cũng bị giết chết nếu chạy không kịp. Hầu hết tổ của loài kiến lê dương này chứa từ 10 ngàn cho đến nhiều triệu con. Kiến lê dương không làm tổ dưới lòng đất mà bên trên mặt đất, nhưng tổ của chúng cũng không cố định. Khi nghỉ ngơi, bầy kiến bám vào nhau thành một khối lớn. Ðôi khi là một khối treo lủng lẳng trên cành cây hay trong bọng cây. Kiến chúa cùng với trứng nằm ở giữa ổ kiến này. Một số loài kiến lê dương đi săn mồi nhiều tuần liền, xong lại nghỉ xả hơi vài tuần. Tận dụng lúc nghỉ ngơi, kiến chúa đẻ hàng ngàn trứng.

Bầy kiến lê dương đang hành quân.

Loài kiến chủ nô đi tấn công các tổ kiến khác, bắt ấu trùng mang về tổ mình. Khi lớn lên thành kiến, số ấu trùng này coi tổ kiến như là tổ của mình và khởi công xây cất cũng như tu bổ thêm. Có loài kiến chủ nô ở Amazon, vì hàm quá cong và lớn, rất khó để xây tổ hoặc ăn uống, chúng đi bắt các loài kiến khác làm nô lệ xây tổ và nuôi chúng ăn. Những kiến chúa chủ nô sau khi giao phối, không bao giờ tự xây tổ mà đi cướp tổ của các loài kiến khác bằng cách giết kiến chúa và đuổi kiến thợ đi. Khi ấu trùng trở thành kiến, chúng phục dịch kiến chúa chủ nô này như kiến chúa cùng loài của mình, chăm sóc trứng và nuôi nấng ấu trùng do kiến chúa chủ nô này đẻ ra. Kiến lớn lên và lại đi tấn công tổ của loài kiến khác, mang ấu trùng về tổ mình và số nô lệ bành trướng thêm ra.

Loài kiến nhà nông thì đi kiếm và tha những loại hạt đem về cất trữ ở những căn phòng đặc biệt trong tổ. Chúng luôn luôn có thức ăn nên không bao giờ sợ đói. Chúng cắn rời vỏ, nhai nát nhân và hút lấy nước. Có loài ăn cả hoa, trái cây và côn trùng.

Loài kiến sữa phụ thuộc hoàn toàn vào mật hay dịch đường. Chúng lấy dịch đường từ một số côn trùng như rệp sáp hay rầy mềm, chẳng hạn như loại rầy bám trên đốt cây mía. Loại côn trùng này hút và ăn dịch đường từ cây. Chúng hút quá nhiều và phải thải bớt dịch đường cho kiến thợ ăn. Thông thường, rệp tiết mật mỗi khi kiến thợ dùng ăng-ten vuốt nhẹ lên người chúng. Bù lại, những con rệp sẽ được loài kiến này bảo vệ khỏi kẻ thù. Một số loài kiến sữa chăm sóc và gìn giữ trứng của những con rệp này suốt mùa đông. Khi trời chuyển sang tiết xuân, trứng nở ra rệp và kiến sẽ tha chúng ra khỏi tổ, cho lên cây. Có loài kiến sữa "chăn" cả đàn rệp bám vào rễ cây mọc dưới tổ của chúng. Khi kiến chúa non rời tổ để đi xây tổ mới, kiến chúa không quên ngậm theo một nàng rệp bụng đầy trứng. Sau chuyến bay giao phối trên không, kiến chúa đi xây tổ mới cùng với "đàn" rệp giống.

Kiến sữa đang “chăn” bầy rầy mềm để lấy dịch đường.

Loài kiến mật sống bằng cách đi kiếm những giọt “mật ngọt” từ côn trùng hoặc cây cỏ mang về cất trong tổ. Ðể giữ mật, chúng có những con kiến “bồn” ăn và dồn mật xuống bụng khi những con kiến thợ mang về. Bụng những con kiến bồn này sẽ nở to ra tới độ chúng đi không được mà chỉ có thể đeo bám trên trần của tổ kiến. Khi con kiến nào cần ăn, nó chỉ việc dùng ăng-ten vỗ nhẹ vào bụng một chú kiến bồn để tiết mật ra cho nó ăn. Loài kiến này thì sống ở những vùng khô và ấm.

Loài kiến nấm nuôi các vườn nấm ở ngay trong tổ của chúng. Chúng nuôi rất nhiều loại nấm nhỏ xíu khác nhau để ăn. Loài kiến nấm dùng lá, cuống hoa, và những phần khác của thực vật làm phân bón cho những vườn nấm của mình. Khi một kiến chúa đi xây tổ mới, nàng không quên ngậm theo một mớ nấm trong hàm để làm giống cho những vườn nấm mới. Loài kiến nấm này phân bố rộng ở vùng nhiệt đới. Loài kiến nấm nổi tiếng nhất là loài kiến cắt lá (leaf cutter ant). Chúng xây những tổ rất lớn bên dưới mặt đất, có thể chứa đến cả triệu con. Ban đêm, hàng đàn đi cắt lá tha về tổ. Chúng khiêng những mảnh lá cao qua đầu và đi thành hàng. Những mảnh lá này sẽ được nhai nát để dùng làm phân bón cho những vườn nấm của chúng. Loài này được coi là loài phá hoại mùa màng vì hay cắn lá.


(Trái) Kiến cắt lá đang tha mồi về tổ - (Phải) Những "bồn" chứa mật của bầy kiến mật

Kiến bun chỉ sống ở Úc và New Caledonia, được coi là loài “cổ xưa” nhất với nhiều con kiến thợ to đến 3.5 cm. Loài kiến này rất hung dữ. Chúng có cặp ngàm và nọc chích rất mạnh. Tổ chúng làm dưới đất. Thường mỗi tổ chỉ có khoảng một trăm con kiến thợ. Ðây là loài kiến duy nhất mà kiến chúa không dấu mình trong tổ mà ra ngoài đi săn mồi để nuôi ấu trùng. Chúng thường săn các loài côn trùng khác. Loài kiến này chạy rất nhanh và thậm chí còn biết nhảy nữa.

Có một số loài cây mà kiến rất thích, hay có thể hiểu là các loài cây này thích kiến và dụ kiến đến ở trên cây. Ðể dụ kiến, các loài cây này có những cấu trúc cành hay lá đặc biệt dễ cho kiến làm tổ, hoặc tiết ra dịch đường cho kiến ăn. Một số cây có những mấu kỳ lạ nổi trên thân, chứa dưỡng chất để kiến ăn. Khi kiến đan tơ xuất hiện, chúng sẽ bảo vệ cây khỏi sâu bọ hại lá, hay thậm chí kể cả thú ăn lá nhưng sợ kiến.

Tổ kiến đan tơ. Ở Việt Nam, loài này được gọi là kiến vàng, các nhà vườn hay thả kiến vàng để bảo vệ cây.

Loài kiến gỗ sống trong rừng vùng bắc bán cầu. Khi đi theo hàng, chúng tiết ra pheromone lưu lại trên đường. Loài này xây tổ rất lớn bằng những nhánh cây nhỏ. Chúng có vai trò quan trọng trong việc bảo vệ rừng cây khỏi sự phá hoại của sâu bọ. Ðôi khi người ta phải dời chúng từ khu rừng này sang khu rừng kia để trừ sâu. Loài kiến gỗ không có nọc chích vì vậy chúng phun a-xít formic để tấn công kẻ địch. A-xít formic xuất phát từ tiếng la-tinh “formica” nghĩa là “kiến gỗ”.

---------------------------------------------------------

Nói chung kiến đóng một vai trò quan trọng trong tự nhiên. Chúng chế ngự các loài côn trùng và chính chúng cũng là nguồn thức ăn của những loài khác như chim chóc, ếch nhái, bò sát... Kiến có thể gây thiệt hại cho nhà nông như cắn lá, nuôi rầy gây thiệt hại cây cối... nhưng kiến cũng mang lại lợi ích cho nhà nông như làm đất tơi dễ đâm rễ, bảo vệ cây trừ sâu bọ...

 CẢM ƠN TẤT CẢ KHÁCH HÀNG ĐÃ TÌM HIỂU THÔNG TIN VÀ DỊCH VỤ CỦA CÔNG TY CHÚNG TÔI!

Công ty chúng tôi chuyên nhận các dịch vụ về diệt tất cả các loại côn trùng gây hại như: RUỒI,MUỖI,KIẾN,GIÁN,BỌ TRÉT,BỌ XÍT,MỐI,MỌT,CHUỘT….

Nhận xử lý cho tất cả các công trình nhà ở,cơ quan,xí nghiệp,khu vực hội trường,khu sân vườn,khu biệt thự cao cấp,sân vận động,khu tập thể,chung cư….

Lợi ích của khách hàng khi sử dụng dịch vụ của công ty chúng tôi!


-         Đội ngũ nhân viên kỹ sư có nhiều năm kinh nghiệm .
-         Sử lý côn trùng bằng phương pháp mới nhất và hiện đại nhất,thẩm mỹ nhất.
-         Sử dụng thuốc được sản xuất từ những tập đoàn nổi tiếng trên thế giới(pháp và đức).
-         Không độc hại,không gây ô nhiễm môi trường,không ảnh hưởng tới sức khỏe con người.
-         Sử lý nhanh,hiệu quả tức thì trong 03 ngày,bảo đảm an toàn cho sản phẩm,sức khỏe con người,vật nuôi…..
-         Vệ sinh sạch sẽ sau khi sử lý xong.
-         Bảo hành miễn phí 03-06-12-24-36 tháng (có giấy bảo lãnh bảo hành).
Chi tiết xin liên hệ:
TPHCM (TRỤ SỞ CHÍNH)
 CÔNG TY TNHH TM - DV – VT – XD HẢI ÂU
 Địa chỉ: 36/10 – Đường Phạm Văn Chiêu – F9 – Quận Gò Vấp
Điện thoại : 08.22.28.53.54 -08.22.47.21.56 - 0938.521.939.
GĐKKD : 4102070076
MST       : 0307550275

Emaill:dichvuhaiau@ymail.com
CHI NHÁNH ĐỒNG NAI
VPDD:Biên Hòa – Đồng  Nai
Địa Chỉ ; số 10 Cư Xá Nông lâm – TP Biên Hòa – Tỉnh Đồng Nai
Tell  : 0948-35-55-66 (Mr Thoại)
Hoặc tham khảo tại wedsite:
http://dichvudietmoihaiau.com
http://dietmoigiarehcm.blogspot.com






DỊCH VỤ DIỆT MUỖI TẠI ĐỒNG NAI

Một số đặc điểm các loài véc tơ truyền bệnh (thuộc họ muỗi culicidea)
Muỗi Culicidae là trung gian truyền một số bệnh như sốt rét, sốt xuất huyết, viêm não, giun chỉ bạch huyết…. Chúng tôi giới thiệu những đặc điểm về hình thái, tập tính, phân bố và vai trò y học của một số véc tơ truyền bệnh trong họ muỗi Culicidae nhằm giúp bạn đọc tham khảo, thông tin chưa thật đầy đủ, rất mong sự đóng góp của các đồng nghiệp.
Giới thiệu họ muỗi Culicidae
Họ Muỗi Culicidae thuộc Bộ Hai Cánh Diptera, Lớp Côn Trùng Insecta, Ngành Tiết túc Arthropoda. Họ Muỗi Culicidae có 3 họ phụ : Anophelinae (anophelines), Culicinae (culicines), Toxorhynchitinae. Muỗi có phân bố rộng trên toàn thế giới, chúng có mặt ở vùng nhiệt đới, ôn đới và mở rộng về vùng cực bắc, trong khoảng độ cao 5500 mét và sâu 1250 mét so với mặt nước biển.
Phân loại:
Họ muỗi Culicidae chia làm 3 họ phụ:
Họ phụ Anophelinae:
           Giống Anopheles là trung gian truyền bệnh sốt rét, một số loài truyền bệnh giun chỉ, virus. Có khoảng 380 loài Anophelestrên thế giới, Việt Nam đã phát hiện 62 loài Anopheles (Bảng định loại muỗi Anophelineaở Việt Nam , 2006).
Họ phụ Culicinae gồm các giống sau:
Culex: có khoảng 550 loài đã được mô tả, đa số chúng sống ở các vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới, truyền bệnh giun chỉ, bệnh viêm não và một số bệnh virus.
Aedes: Muỗi Aedes có khoảng 950 loài ở khắp nơi trên thế giới,Việt Nam đã phát hiện được 40 loài Aedes (Vũ Đức Hương, 1984), muỗi truyền bệnh sốt Dengue / sốt xuất huyết Dengue, bệnh sốt vàng, bệnh virus, giun chỉ, bệnh viêm não.
Mansonia: Giống Mansonia có khoảng 25 loài, sống ở vùng nhiệt đới, truyền bệnh giun chỉ Brugia.
Haemagogus và Sabethes: truyền bệnh sốt vàng vùng rừng rậm ở Trung và Nam Mỹ.
Họ phụ Toxorhynchitinae
Có khoảng 66 loài, là những loài muỗi không ký sinh, ấu trùng của chúng ăn các loài bọ gậy trong nước, thậm chí còn ăn thịt các bọ gậy đồng loại. Muỗi trưởng thành không ăn, sống trong các rừng rậm nhiệt đới.
Giống muỗi Anopheles
Trên thế giới có khoảng 380 loài Anopheles. Có khoảng 60 loài đốt máu người và có thể truyền sốt rét. Một số loài Anopheles khác là trung gian truyền bệnh giun chỉ (Brugia malayi, Brugia timori và Wuchereria bancrofti ) và các bệnh virus.
Đặc điểm hình thể muỗi Anopheles :
Hình thể muỗi Anopheles khác các loài muỗi Culex, Aedes, Mansonia, chiều dài của pan bằng chiều dài của vòi, trên cánh muỗi có các vẩy đen trắng, muỗi đậu chếch một góc 45o so với giá thể. Anopheles culicifacies, một loài truyền bệnh ở Nam Á là một ngoại lệ, khi muỗi đậu thân gần như song song với giá thể, nhìn gần giống như muỗi Culex.

 

Hình thể muỗi Anopheles
Trứng muỗi Anopheles
Trứng Anopheles:
- Trứng Anopheles được đẻ từng chiếc, trứng có hai phao ở hai bên, nổi trên mặt nước cho tới khi nở.. Trứng nở sau 2-3 ngày. Ở vùng nhiệt đới, thời gian từ khi trứng nở tới khi muỗi trưởng thành khoảng 11-13 ngày.
Bọ gậy Anopheles:
          Bọ gậy Anopheles không có ống xiphông, nằm ngang trên mặt nước. Nơi cư trú của bọ gậy thay đổi theo từng loài, nhưng đa số chúng thích nơi có ánh sáng mặt trời, nước đọng haychảy chậm, hai bên bờ có cây cỏ, rong rêu.






Bọ gậy muỗi Anopheles        
 Hình thể quăng Anopheles
Quăng Anopheles:
Quăng muỗi Anopheles có hình dấu hỏi lớn, ở trên đầu có ống thở hình phễu.
Vai trò y học:
- Vai trò y học quan trọng nhất của muỗi Anopheles là truyền bệnh sốt rét. Mỗi vùng, mỗi nước có một số loài muỗi truyền sốt rét chủ yếu.
Phân bố:
Muỗi Anopheles phân bố rộng khắp trên thế giới, Ở Việt Nam có 62 loài muỗi Anopheles trong đó khoảng 10 loài Anopheles có vai trò truyền bệnh sốt rét, quan trọng nhất là An. minimus, An. dirus, An. epiroticus và An. subpictus.

Muỗi Anopheles minimus
An. minimus là muỗi truyền bệnh sốt rét chủ yếu ở Việt Nam.
Đặc điểm hình thể:
An. minimus là một loài muỗi đa hình, từ năm 1938 Toumanoff đã thấy có 2 kiểu cánh khác nhau, có điểm đen gốc costa gián đoạn và không gián đoạn, trong mỗi kiểu cánh này lại có nhiều chi tiết khác nhau ở gân cánh. Ngày nay các nhà khoa học Việt Nam và thế giới dùng những kỹ thuật hiện đại đã xác định được 3 kiểu hình và 5 kiểu gen khác nhau của An. minimus. Hình thể muỗi An. minimus có những đặc điểm sau: Muỗi nhỏ, màu đen, chân đen, pan có 3 băng trắng, băng đen cạnh băng trắng đỉnh pan hẹp. Gân cánh costa có 4 điểm đen. Điểm đen trước mút L1 không có gián đoạn trắng và thường dài bằng điểm đen tương ứng trên gân costa. L6 thường có 2 điểm đen, mút L6 thường không có diềm trắng. Gốc L1 chỉ có vẩy trắng hoặc vẩy màu kem.

Anophelesminimus
Đặc điểm sinh học:
An. minimus thích đốt máu người, kết quả phản ứng ngưng kết huyết thanh cho thấy 67,7-91,2% muỗi có đốt máu người. An. minimus hoạt động đốtmáu về đêm, cao điểm từ 20 giờ đến 2 giờ, về mùa đông có thể sớm hơn. Nơi trú ẩn tiêu máu: muỗi thường đậu trong nhà, gầm giường, góc tủ, nơi treo vắt quần áo, muỗi đậu cao không quá 2 m so với sàn nhà. Ở những nơi phun DDT nhiều năm liền hoặc nơi mới khai phá muỗi An. minimus trú ẩn tiêu máu ngoài nhà. Ổ bọ gậycủa An. minimus: thường ở suối nước trong, chảy chậm, hai bên bờ suối có cỏ, có ánh nắng chiếu trực tiếp, ở các ruộng bậc thang và các mương máng nước chảy. Tuy nhiên muỗi An. minimus cũng có thể đẻ vào các chum vại nước ăn, bể chứa nước mưa... Trong vụ dịch sốt rét ở Gia Lâm, Hà Nội năm 1957, 50-60% các bể chứa nước của gia đình có bọ gậyAn. minimus.Mùa phát triển của muỗi An. minimus thường vào đầu và cuối mùa mưa, phụ thuộc vào khí hậu của từng miền. Miền Bắc: An. minimus phát triển trong mùa mưa, có 2 đỉnh cao trong năm: tháng 4- 5 và tháng 9-10 (Nguyễn Thọ Viễn, 1968), vào các tháng 6-7-8 do mưa nhiều, mưa to nước cuốn trôi hết bọ gậy, mật độ muỗi giảm.Tây Nguyên: muỗi phát triển quanh năm, đỉnh cao vào cuối mùa khô và đầu mùa mưa (Nguyễn Đức Mạnh, 1977, 1988). Vân Canh, Bình Định: muỗi phát triển quanh năm, đỉnh cao vào các tháng 3, 4, 5 và tháng 9, 10, 11, 12 (Nguyễn Thọ Viễn và cs, Lê Khánh Thuận và cs, 2000). Miền Đông Nam Bộ: mật độ muỗi tăng cao vào tháng 12, vào mùa khô. Ở Việt Nam An. minimus còn nhạy cảm với DDT, nhưng ở những vùng phun DDT nhiều năm liền, muỗi thay đổi sinh thái, đốt máu trong nhà nhưng bay ra trú ẩn ngoài nhà. (Nghiên cứu tại Đồng Nai, Vân Canh, Bình Định, Nguyễn Thọ Viễn và cs, 1976, 1991). Khi ngừng phun DDT một thời gian, mật độ muỗi được phục hồi và tăng sức đề kháng với DDT.

Sinh cảnh ổ bọ gậy An. minimus
Vai trò y học:
An. minimus đã được xác định có vai trò truyền bệnh sốt rét ở nhiều vùng trong nước. Tỷ lệ nhiễm nhiễm ký sinh trùng sốt rét tự nhiên 1,4 - 4%, trong các vụ dịch sốt rét mổ muỗi đều thấy có ký sinh trùng sốt rét. Tỷ lệ nhiễm ký sinh trùng sốt rét thực nghiệm 62- 72%.
Phân bố:
Ở Việt Nam An. minimus phân bố ở các vùng savan đồi núi, rừng thưa, ven rừng rậm.
Phòng chống:
Ở vùng đồng bằng có thể sử dụng cá, mesocyclop hoặc vi khuẩn Bacillus để diệt bọ gậy muỗi An. minimus. Ở vùng rừng núi thường dùng các hoá chất để diệt muỗi, hiện nay hai hóa chất thuộc nhóm pyrethroid là Fendona và Icon được dùngđể tẩm màn và phun tồn lưu phòng chống sốt rét.Các biện pháp cải tạo môi trường, bảo vệ cá nhân, dùng màn tẩm hoá chất xua và diệt muỗi, thường xuyên dọn vệ sinh, phát quang bụi rậm, khơi thông dòng chảy ở cống rãnh, suối nước quanh nơi ở để phá nơi trú ẩn, nơi đẻ của muỗi, là một biện pháp rất quan trọng làm giảm mật độ muỗi.
Muỗi Anopheles dirus
An. dirus thuộc nhóm An. leucosphyrus, là một phức hợp gồm 14 loài, trong đó có An. dirusAn. dirus phân bố rất rộng rãi ở Banglades , Myanma, Campuchia, Ấn Độ, Lào, Thái Lan, Trung Quốc, Malaysia, Việt Nam ... ở Việt Nam trong nhóm An. leucosphyrus còn có loài An. takasagoensis chưa phát hiện có vai trò truyền bệnh sốt rét .

Anopheles dirus
Đặc điểm hình thể:
An. dirus là muỗi kích thước trung bình, màu nâu đen, chân có nhiều đốm trắng, khớp cẳng - bàn chân sau có băng trắng rộng. Điểm đen presector trên gân L1 kéo dài về phía gốc cánh hơn điểm đen tương ứng trên gân costa.
Đặc điểm sinh học:
An. dirus thích đốtmáu người, khi không có người chúng đốtmáu động vật, muỗi có tập tính rình mồi trước khi đốt máu.Muỗi hoạt động đốt máu vào ban đêm, cao điểm từ nửa đêm về sáng, thường đốt máu người trong và ngoài nhà, trú ẩn tiêu máu ngoài nhà. Muỗi phát triển vào mùa mưa, đỉnh cao vào các tháng mưa nhiều. Ổ bọ gậycủa An. dirus là các vũng nước đọng trong rừng, trong các hốc cây, bẹ lá có nước, vỏ đồ hộp... đặc biệt ở những ổ nước nơi có bóng cây che phủ.




Sinh cảnh An. dirus
Vai trò y học:
An. dirus là loài muỗi truyền bệnh sốt rét chủ yếu ở vùng rừng núi Đông Nam Á và Việt Nam. Tỷ lệ nhiễm ký sinh trùng sốt rét ở Di Linh: 1,2-36,38%; Tây Ninh: 1- 10%; Vân Canh, Bình Định: 1,75%; Sông Bé: 1,4%. Các loài muỗi thuộc nhóm An.leucosphyrus còn truyền ký sinh trùng sốt rét cho khỉ, truyền giun chỉ cho người.
Phân bố:
An. dirus sống hoang dại trong các rừng già bằng phẳng có nhiều bóng râm. Ở Việt Nam, muỗi phân bố từ miền tây Thanh Hóa đến cuối dãy Trường Sơn, gặp nhiều ở vùng rừng bằng, rừng trồng cây cao su...
Phòng chống:
An. dirus ở Việt Nam còn nhạy cảm với các hóa chất thuộc nhóm pyrethroid,.Các biện pháp diệt muỗi trưởng thành gặp nhiều khó khăn vì muỗi sống ngoài nhà. Có thể sử dụng các hoá chất thuộc nhóm pyrethroid phun tồn lưu hoặc tẩm màndiệt muỗi trưởng thành ... Để phòng chống muỗi, thường kết hợp biện pháp diệt bọ gậy với vệ sinh cải tạo môi trường, triệt phá nơi sinh đẻ, nơi trú ẩn của muỗi. Phát quang tạo khoảng trống quanh nhà, đẩy lùi nơi trú ẩn của muỗi cách xa khu vực người ở.
Muỗi Anopheles subpictus
An. subpictus là muỗi truyền ký sinh trùng sốt rét ở ven biển Việt Nam. Vùng dịch tễ do An. subpictus truyền bệnh có tỷ lệ P.vivax cao 90 - 100%.
Đặc điểm hình thể:
An. subpictus là muỗi có kích thước trung bình.Gân cánh costa có trên 3 điểm đen. Chân muỗi không có các vẩy đen trắng, có màu đồng nhất. Trên pan có 3 băng trắng, băng trắng đỉnh pan dài không quá 2,5 chiều dài băng đen dưới đỉnh, vòi đen.
Đặc điểm sinh học:
An. subpictus trú ẩn trong nhà, chuồng gia súc, hoạt động đốt máu vào ban đêm, thích đốt máu gia súc hơn máu người.Theo Toumannoff muỗi thu thập ở trong nhà, tỷ lệ đốt máu người thấp (9,5%), tỷ lệ đốt máu súc vật cao (90,5%). Nơi đẻ của muỗi là vùng nước lợ ven biển từ Bắc vào Nam, hàm lượng muối thích hợp 5-7g/l, có thể gặp bọ gậy ở những nơi có độ mặn cao hoặc thấp hơn. Ở miền Bắc mật độ muỗi An. subpictus cao ở vùng cách bờ biển từ 1- 4km, ở các cửa sông lớn do nước triều lên có thể thấy muỗi An.subpitus ở cách bờ biển 7 - 10 km, hoặc xa hơn. Ở miền Nam đặc biệt là các tỉnh miền Tây Nam Bộ, muỗi phân bố rộng rãi hơn do nước biển vào sâu trong đất liền. Mùa phát triển của muỗi tuỳ thuộc vào từng khu vực địa lý, ở miền Bắc cao điểm vào các tháng 6,7 và 9,10, ở miền Nam cao điểm vào các tháng đầu mùa mưa tháng 4-8.
Vai trò truyền bệnh:
An. subpictus là muỗi truyền bệnh sốt rét ở vùng ven biển cả nước, cùng vớiAn. epiroticus ở ven biển miền Nam, tạo lên vùng sốt rét lưu hành.
Phân bố:
An. subpictussống ở vùng nước lợ, phân bố dọc ven biển trên toàn quốc.
Biện pháp phòng chống:
An. subpitus đã được thông báo kháng với DDT.Ở những vùng An. subpitus đã kháng DDT có thể dùng các hoá chất thuộc nhóm pyrethroid để diệt muỗi. Muỗi Ansubpitus thích đốt máu trâu, bò nên làm các chuồng trâu bò xung quanh làng có tác dụng như hàng rào thu hút muỗi để hạn chế muỗi đốt máu người. Muỗi trú ẩn trong nhà, nếu nhà cửa thoáng mát, sáng sủa…có thể hạn chế nơi trú ẩn của muỗi.
Muỗi Anopheles epiroticus
An. epiroticus là vector truyền sốt rét ở ven biển miền Nam Việt Namvà Campuchia.
Đặc điểm hình thể:
Muỗi có kích thước trung bình. Chân có các vẩy đen trắng.Vòi màu đen, pan có 3 băng trắng, pan trắng ở đỉnh pan rộng, đốt pan II không có điểm trắng ở mặt lưng. Gân cánh costa có trên 3 điểm đen. Gân cánh số 6 có 2 điểm đen.
Đặc điểm sinh học:
An. epiroticus thích đốtmáu người ở trong nhà, hoạt động đốt máu suốt đêm, đỉnh cao vào khoảng 22-2 giờ sáng tuy nhiên muỗi có thể đốt máu cả ban ngày ở những nhà ẩm thấp, thiếu ánh sáng. Muỗi trú ẩn ở trong nhà. Tỷ lệ muỗi thu thập trong nhà 99,1% chỉ có 0,9% thu thập ở chuồng gia súc. Muỗi đẻ trứng ở ao, ruộng, kênh, rạch có nhiều rong tảo, độ pH từ 6-8, nồng độ muối thích hợp 7g/l, tuy nhiên có thể thu thập bọ gậy này ở các ổ nước có nồng độ muối từ 0,3-28g/l. Mùa phát triển của muỗi quanh năm, nhưng cao điểm vào các tháng đầu mùa mưa (tháng 5- 6).
Vai trò y học:
An. epiroticus là vector chính truyền bệnh sốt rét ở ven biển miền Nam Việt Nam. Muỗi An. epiroticus có thể truyền cả P.falciparum và P.vivax. nhưng ở vùng phân bố muỗi này tỷ lệ nhiễm P.falciparum cao hơn.
Phân bố:
Vùng phân bố của muỗi An. epiroticus thường gặp cả muỗi An. subpictus. Ở Việt Nam muỗi An. epiroticus phân bố từ ven biển Hàm Tân, Bình Thuận tới vùng ven biển Campuchia. Ở đồng bằng sông Cửu Long muỗi phân bố rộng ở những nơi có nước thuỷ triều lên xuống.
Biện pháp phòng chống:
Muỗi An. epiroticus còn nhạy cảm với DDT và các hoá chất diệt côn trùng, nhưng ở một vài nơi đã có hiện tượng An. epiroticus kháng, tăng sức chịu đựng với hoá chất diệt.
Một số véc tơ truyền bệnh sốt rét phụ
An.maculatus:
An.maculatus phân bố rộng từ đồng bằng, ven biển đến miền núi, muỗi đốt cả máu người và động vật, sống hoang dại, phát triển quanh năm, đỉnh cao vào mùa mưa. Tỷ lệ muỗi An.maculatus nhiễm thoa trùng từ 0,51-2,7% (Toumanoff, 1936) và 0,03% (Nguyễn Thượng Hiền, 1968).
An.aconitus:
An. aconitus phân bố rộng từ đồng bằng, ven biển đến miền núi. Muỗi đốt cả máu người và động vật, muỗi sống hoang dại, phát triển quanh năm, đỉnh cao vào mùa mưa. An.aconitus là muỗi truyền bệnh sốt rét chủ yếu ở vùng đồng bằng Java Indonesia (Reid 1968).
An.jeyporiensis:
Theo Đặng Văn Ngữ (1962), muỗi An.jeyporiensis là muỗi truyền ký sinh trùng sốt rét thứ yếu ở vùng miền Bắc. Đây là loài muỗi có phân bố rất rộng ở vùng rừng núi trong cả nước. Muỗi thích đốt máu người và trú ẩn trong nhà. Muỗi phát triển quanh năm nhưng cao nhất vào mùa mưa.Tỷ lệ mang ký sinh trùng sốt sét ở Việt Nam là 0,72% (Toumanoff, 1931), 0,75% (Nguyễn Thượng Hiền, 1968). Loài này còn truyền bệnh giun chỉ ở Trung Quốc.
Giống muỗi Culex
Đặc điểm hình thể:
- Trứng muỗi hình bầu dục, dính thành bè nổi trên mặt nước. Bọ gậy có ống thở nhỏ, dài và thẳngQuăng Culex hình dấu hỏi, có ống thở hình ống. Muỗi trưởng thành đậu song song với mặt tường, có màu nâu đậm hoặc nâu nhạt, gân cánh một màu, pan dài bằng 1/5 - 1/6 chiều dài của vòi.
Vai trò y học:
Culex quinquefasciatus truyền bệnh giun chỉ Wuchereria bancrofti.Culex tritaeniorhynchus truyền bệnh viêm não Nhật Bản ở châu Á.
Phân bố:
Có 550 loài Culex được mô tả, đa số ở các vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới. Ở các nước đang phát triển, Culex quinquefasciatus rất phổ biến ở các đô thị nơi mà hệ thống thoát nước và vệ sinh không được bảo đảm.
Muỗi Culex quinquefascilatus
Đặc điểm hình thể:
Trứng C.quinquefasciatus hình bầu dục thường dính thành bè nổi trên mặt nước nơi cống rãnh bẩn, mất vệ sinhBọ gậy C.quinquefasciatus thon dài, có ống thở nhỏ dài. Quăng C.quinquefasciatus hình dấu hỏi, có ống thở ở trên đầu hình trụ. Muỗi C.quinquefasciatus có màu nâu đậm hoặc nâu nhạt, chân và cánh không có khoang đen trắng.


Muỗi C.quinquefasciatus
Đặc điểm sinh học:
C.quinquefasciatus đặc biệt thích đẻ ở những nơi nước bẩn có nhiều chất hữu cơ như chất thải, phân, cây mục, trứng kết lại thành bè nổi trên mặt nước.Muỗi đốt máu về ban đêm, rất thích đốt máu người, ít đốt máu súc vật. Ban ngày muỗi đậu nghỉ trong góc nhà, gầm giường, gầm tủ. Muỗi phát triển quanh năm, nhưng cao điểm vào mùa xuân hè. Ở Hà Nội muỗi này phát triển mạnh nhất vào các tháng 3-4-5 (Đặng Văn Ngữ, 1960).
Vai trò y học:
-Cquinquefasciatus truyền giun chỉ Wuchereria bancrofti cho người.

 Bệnh nhân nhiễm giun chỉ
Wuchereria bancrofti.
Năm 1996 ước tính có khoảng 107 triệu người mắc 3 loài giun chỉ là Brugia malayi, Brugia timori và Wuchereria bancrofti, bệnh có tại nhiều vùng ở các nước Trung Quốc, Ấn Độ, Đông Nam Á, các đảo Thái Bình Dương, Châu Phi, Trung và Nam Mĩ. Bệnh giun chỉ Wuchereria bancrofti chủ yếu do muỗi Culex quinquefasciatus truyền, ngoài ra ở một số nơi bệnh còn do một vài loài muỗi Anopheles Aedes truyền.
Ở Việt Nam, nghiên cứu của Nguyễn Duy Toàn và cộng sự, 1983xét nghiệm máu cho 37.738 người thuộc 5 tỉnh đồng bằng sông Hồng, xác định được 2 loài là Brugia malayi và Wuchereria bancrofti có tỷ lệ nhiễm chung là 2,08%. Đỗ Dương Thái và cộng sự,1985 xét nghiệm máu cho 24.130 người thuộc 32 xã ở huyện Mỹ Văn, Hải Hưng thấy tỉ lệ nhiễm chung toàn huyện là 1,68%, xã có tỉ lệ nhiễm cao nhất là 7,43%, trong đó Brugia malayi chiếm 96,38% và Wuchereria bancrofti chiếm 2,93%, phối hợp cả 2 loài là 0,69%.
Phân bố:
C.quinquefasciatus có nhiều ở trong nhà, chuồng gia súc những vùng đông dân, nhà cửa thấp tối, điều kiện vệ sinh kém, quanh nhà có cống rãnh nước bẩn. Muỗi thường có ở các nước đang phát triển, phổ biến ở các đô thị phát triển nhanh, nơi hệ thống thoát nước và vệ sinh không được bảo đảm.

C.quinquefasciatus có sức chịu đựng cao với các hoá chất diệt côn trùng, vì vậy để phòng chống muỗi phải cải tạo điều kiện sống, vệ sinh nhà cửa, cống rãnh để triệt phá nơi trú ẩn, nơi sinh đẻ của muỗi.  
Muỗi Culex Tritaeniorhynchus
Muỗi truyền bệnh viêm não B Nhật
Bản ở vùng Đông Nam Á có nhiều loài thuộc giống Culex: C. tritaeniorhynchus, C. bitaeniorhynchus, C. gelidus, C. vishnui... Ở Việt Nam, muỗi C. tritaeniorhynchus có vai trò truyền bệnh viêm não B Nhật Bản
Đặc điểm hình thể:
C. tritaeniorhynchus có màu nâu đen, đùi sau không có vạch đen ở các giải mép lưng, trên bề mặt bụng vòi có các vẩy trắng kéo dài đến gốc. 

Muỗi Culextritaeniorhynchus
Đặc điểm sinh học:
C. tritaeniorhynchus đốt máu về ban đêm, cả trong và ngoài nhà, thích đốt máu gia súc hơn máu người. Muỗi thường trú ẩn ở các bụi rậm, chuồng gia súc. Mùa phát triển của muỗi vào mùa nóng, ẩm. Ở Hà Nội muỗi phát triển mạnh từ tháng 5-11, cao điểm vào tháng 8-9.
Vai trò y học:
C. tritaeniorhynchus truyền bệnh viêm não B Nhật Bản, trẻ em rất dễ mắc, khi khỏi để lại những di chứng nặng nề.
Phân bố:
Việt Nam là nước nhiệt đới có nhiệt độ, độ ẩm rất thích hợp cho muỗi Culex tritaeniorhynchus phát triển. C. tritaeniorhynchus gặp nhiều ở vùng nông thôn, làng mạc đông dân có nhiều hồ, ao.
Phòng chống:
Có nhiều biện pháp diệt muỗi, làm giảm mật độ muỗi như khai thông cống rãnh,cải tạo môi trường, dùng các thuốc xua diệt muỗi, hoặc dùng cácbiện pháp đấu tranh sinh học như thả cá, Mesocyclop ...vào ruộng cho ăn bọ gậy muỗi. Phòng chống muỗi đốt bằng cách bôi thuốc xua, tẩm thuốc xua diệt vào quần áo, nằm màn có tẩm hóa chất ...
Muỗi Mansonia
Mansonia phân bố chủ yếu ở các nước nhiệt đới, một số loài là trung gian truyền giun chỉ Brugia ở miền Nam Ấn Độ, Indonesia, Malaysia và Việt Nam.
Đặc điểm hình thể:
Trứng Mansonia hình bầu dục, thường bám thành từng chùm mặt dưới những lá của cây thuỷ sinh. Bọ gậy Mansonia thường cắm ống thở vào rễ cây thuỷ sinh để thởQuăngMansonia có ống thở hình ống.Muỗi:oàn bộ muỗi có phủ các vẩy màu nâu sẫm và màu nâu nhạt.



 Trứng muỗi Mansonia
 Muỗi Mansonia
Đặc điểm sinh học:
Các loài muỗi Mansonia thường đẻ trứng thành từng đám, dính treo vào mặt dưới của cây hoặc gần sát mặt nước.Bọ gậy và quăng bám vào các thực vật thuỷ sinh để thở, chúng ở những nơi nước có thực vật thuỷ sinh như đầm lầy, mương máng có cỏ… bọ gậy thường bám vào mặt dưới các loài bèo. Các loài Mansonia thường đốt máu vào ban đêm, chủ yếu ở ngoài nhà, một số loài cũng vào nhà đốt máu, nhưng sau khi đốt máu muỗi thường trú ẩn tiêu máu ngoài nhà.
Vai trò y học:
Giống muỗi Mansonia có hai giống phụ: Mansonia Mansonioides và Mansonia Coquillettidia. Giống phụ Mansonia Coquillettidia có nhiều loài, trong đó M.(C). crassipes đã được xác định có vai trò truyền bệnh. Giống phụ Mansonia Mansonioides có nhiều loài có khả năng truyền bệnh, ở Việt Nam đã xác định 2 loài M.(M). annulifera và M.(M). uniformis có khả năng truyền bệnh giun chỉ. Nguyễn Duy Toàn và cộng sự (1992) đã xác định loài M.(M). indianatruyền bệnh giun chỉ ở Việt Nam.
Phân bố:
Muỗi phân bố chủ yếu ở những nước nhiệt đới, ở Việt Nam, muỗi Mansonia gặp nhiều nơi ao hồ có cây thuỷ sinh và nơi nuôi nhiều gia súc.
Phòng chống:
Dọn sạch ao hồ bằng cách thay nước, phát cây, cỏ quanh bờ, vớt bỏ những cây thuỷ sinh, bèo... để hạn chế muỗi đẻ, bọ gậy muỗi.Thả cá, Mesocyclop xuống ao hồ để ăn bọ gậy muỗi.Phòng chống muỗi đốt bằng cách nằm màn. Dùng hóa chất, kem xua để diệt muỗi.
Muỗi Aedes
Đặc điểm hình thể:
Trứng Aedes có kích thước nhỏ, khác với trứng muỗi Anopheles, Culex, trứng muỗi Aedes không có phao, không dính thành bè nổi trên mặt nước mà rời từng cáibám trên thành các dụng cụ chứa nước.
Cơ thể bọ gậy chia ra làm ba phần: đầu, ngực và bụng. Đặc điểm đặc trưng của bọ gậy Aedes là có một chùm lông nằm ở giữa ống thở. Tỷ lệ giữa chiều dài và chiều rộng của ống thở gọi là chỉ số ống thở được sử dụng để định loại.
Quăng Aedes giống như một dấu hỏi, bên ngoài quăng được bao bọc một lớp vỏ màu xẫm nhưng có thể nhận thấy mầm của những phần phụ của muỗi trưởng thành sau này. Cơ thể quăng được chia làm hai phần: đầu ngực và bụng.
Muỗi Aedes có kích thước trung bình, thường có màu đen điểm nhiều vảy trắng nên được gọi là muỗi vằn. Cơ thể muỗi được chia ra làm ba phần đầu, ngực và bụng.Vòi muỗi có các vảyđen trắng. Ở giữa vòi của một số loài các vảy tập trung tạo thành một khoang trắng. Trên pan thường phủ vảy đen, trắng, một số loài vảy trắng tập trung tạo thành băng trắng ở đỉnh pan. Trên tấm lưng và tấm bên của ngực có phủ nhiều vảy và lông cứng, các vảy thường có màu đen, màu nâu hay màu trắng, các vảy trắng tập trung thành điểm trắng, băng trắng.Trong định loại muỗi Aedes, hệ thống lông, cách sắp xếp của các vẩy trên tấm lưng và tấm bên ngực là đặc điểm phân loại. Khác với nhiều giống muỗi khác, trong hệ thống lông trên tấm ngực giữa của muỗi Aedes không có lông lỗ thở mà chỉ có lông sau lỗ thở. Phần ngực mang một đôi cánh và ba đôi chân. Màng cánh không phủ vẩy mà chỉ có những lông nhỏ li ti. Tỷ lệ độ dài của phòng cánh trước và độ dài của phòng cánh saukhác nhau giữa các loài. Chân gồm 5 đốt, trên các phần của chân có phủ vẩy đen, trắng tập trung thành những điểm trắng hay khoang trắng đặc trưng cho một số loài. Tỷ số giữa các phần của chân và giữa các đốt bàn chânđược sử dụng làm chỉ số đặc trưng cho từng loài. Phần bụng có 10 đốt. Đốt 9 và đốt 10 của bụng tiêu giảm, tạo thành cơ quan giao phối. Trên tấm lưng hay tấm bụng thường được phủ vẩy đen trắng, ở đầu và cuối các đốt bụng các cụm vẩy trắng thường tập trung thành các băng ngang hình chữ nhật hay hình elip.












Muỗi Aedes aegypti 
Muỗi Aedes albopictus


Đặc điểm sinh học:







Aedes đẻ trứng rời từng chiếc ở nơi ẩm ướt, ngay trên hoặc gần sát với mặt nước, nơi có nước lên xuống. Trứng chịu được độ khô trong nhiều tháng và chỉ nở khi bị ngập nước. Trứng Aedes có thể tồn tại qua mùa đông lạnh. Muỗi Aedes thích đốt máu người và động vật. Muỗi Aedes chủ yếu đốt mồi vào buổi sáng và buổi chiều. Đa số các loài đốt mồi và trú tiêu máu ngoài nhà, nhưng ở các thành phố nhiệt đới, Aedes aegypti đẻ trứng, đốt mồi, trú tiêu máu trong nhà và xung quanh nhà.
Vai trò y học:
Ở những nước nhiệt đới, muỗi Aedes aegypti là trung gian truyền bệnh Dengue, bệnh sốt xuất huyết, bệnh sốt vàng và các bệnh virus khác. Aedes albopictus cũng là trung gian truyền bệnh Dengue. Ở một số vùng Aedes có thể truyền bệnh giun chỉ. Bệnh sốt Dengue và sốt xuất huyết Dengue thường có ở các thành phố vùng Đông Nam Á.
Phân bố:
Muỗi Aedes có mặt khắp nơi trên thế giới. Ở Việt Nam có mặt khoảng 40 loài muỗi Aedes thuộc 8 phân giống.
Phòng chống:
Cải tạo môi trường, vệ sinh xung quanh nhà ở, lấp đầy các ổ nước đọng, loại bỏ những dụng cụ chứa nước không cần thiết, kết hợp nhiều biện pháp như thả cá, Mesocyclop xuống ao hồ để ăn bọ gậy muỗi, làm giảm mật độ muỗi Aedes.
Muỗi Aedes aegypti
Đặc điểm hình thể:
Trứng Aedes aegypti hình bầu dục, mầu đen, rời từng chiếc.Bọ gậy Aedes aegypticó ống thở to, bầu hơn ống thở của bọ gậy muỗi Culex, trên ống thở có vảy xếp theo hình răng cưa.Muỗi Aedes aegypti nhỏ, màu đen, chân, thân, bụng có khoang đen trắng rõ rệt, đặc biệt vùng ngực có các vẩy trắng xếp thành hàng trên lưngthành hình chiếc đàn 2 dây màu trắng.
Đặc điểm sinh học:
Muỗi thích đậu cao, nơi treo vắt quần áo, mùng màn, ở trong và ngoài nhà. Muỗi đốt máu vào ban ngày, bay rất nhanh, thấy mồi lao vào đốt máu ngay, theo mồi rất dai và chỉ bay đi khi đã đốt máu no. Hoạt động đốt máu của muỗi Aedes aegypti phụ thuộc nhiệt độ môi trường nếu nhiệt độ dưới 230C muỗi hầu như không đốtmáu, Muỗi Aedes aegypti đốt máu người vàđộng vật. Muỗi đẻ trứng ở những nơi có nước, đặc biệt là nước mưa, đôi khi đẻ trong đất ẩm, trứng nở khi rơi vào nước. Muỗi hoàn thành vòng đời nhanh, giao phối trong không gian nhỏ, nên muỗi được nuôi trong phòng thí nghiệm để thử nghiệm hoá chất. Mùa phát triển của muỗi thường vào mùa mưa, ở miền Bắc muỗi phát trtển từ tháng 4-11 thường có hai đỉnh cao vào tháng 5-6 và tháng 10-11.
Vai trò y học:
- Muỗi truyền mầm bệnh sốt Dengue/sốt xuất huyết Dengue và bệnh sốt vàng.
Phân bố:
Muỗi gặp chủ yếu ở những nước nhiệt đới thuộc Châu Á, Châu Phi, Châu Mĩ...Muỗi gặp nhiều ở thành phố nên được gọi là muỗi vằn thành thị. Muỗi còn ở các thị trấn dọc theo các trục đường giao thông có dân cư đông đúc.
Phòng chống:
Phòng chống muỗi Aedes aegypti bằng cách che đậy kín nơi chứa nước, thả cá, Mesocyclop để ăn bọ gậy, thay nước thường xuyên, 7-10 ngày thay một lần, khi có nhiều muỗi hoặc đang có dịch thì dùng malathion, permethrin.... phun dưới dạng sương mù (ULV - Ultralowvolume).
Muỗi Aedes albopictus
Muỗi Ae. albopictus về hình thể rất giống muỗi Ae. aegypti chỉ khác trên mặt lưng có một vạch trắng, chạy dọc lưng. Sinh lý, sinh thái của muỗi Ae. albopictus tương tự như của muỗi Ae. aegypti, nhưng muỗiAe. albopictus phân bố chủ yếu ở vùng nông thôn, gặp ít ở thành phố.

 

 CẢM ƠN TẤT CẢ KHÁCH HÀNG ĐÃ TÌM HIỂU THÔNG TIN VÀ DỊCH VỤ CỦA CÔNG TY CHÚNG TÔI!

Công ty chúng tôi chuyên nhận các dịch vụ về diệt tất cả các loại côn trùng gây hại như: RUỒI,MUỖI,KIẾN,GIÁN,BỌ TRÉT,BỌ XÍT,MỐI,MỌT,CHUỘT….

Nhận xử lý cho tất cả các công trình nhà ở,cơ quan,xí nghiệp,khu vực hội trường,khu sân vườn,khu biệt thự cao cấp,sân vận động,khu tập thể,chung cư….

Lợi ích của khách hàng khi sử dụng dịch vụ của công ty chúng tôi!


-         Đội ngũ nhân viên kỹ sư có nhiều năm kinh nghiệm .
-         Sử lý côn trùng bằng phương pháp mới nhất và hiện đại nhất,thẩm mỹ nhất.
-         Sử dụng thuốc được sản xuất từ những tập đoàn nổi tiếng trên thế giới(pháp và đức).
-         Không độc hại,không gây ô nhiễm môi trường,không ảnh hưởng tới sức khỏe con người.
-         Sử lý nhanh,hiệu quả tức thì trong 03 ngày,bảo đảm an toàn cho sản phẩm,sức khỏe con người,vật nuôi…..
-         Vệ sinh sạch sẽ sau khi sử lý xong.
-         Bảo hành miễn phí 03-06-12-24-36 tháng (có giấy bảo lãnh bảo hành).
Chi tiết xin liên hệ:
TPHCM (TRỤ SỞ CHÍNH)
 CÔNG TY TNHH TM - DV – VT – XD HẢI ÂU
 Địa chỉ: 36/10 – Đường Phạm Văn Chiêu – F9 – Quận Gò Vấp
Điện thoại : 08.22.28.53.54 -08.22.47.21.56 - 0938.521.939.
GĐKKD : 4102070076
MST       : 0307550275

Emaill:dichvuhaiau@ymail.com
CHI NHÁNH ĐỒNG NAI
VPDD:Biên Hòa – Đồng  Nai
Địa Chỉ ; số 10 Cư Xá Nông lâm – TP Biên Hòa – Tỉnh Đồng Nai
Tell  : 0948-35-55-66 (Mr Thoại)
Hoặc tham khảo tại wedsite:
http://dichvudietmoihaiau.com
http://dietmoigiarehcm.blogspot.com